Chỉ định

Tránh thai đường uống.

Điều trị mụn trứng cá mức độ trung bình liên quan đến hormone ở những phụ nữ lựa chọn sử dụng tránh thai đường uống.

Điều trị các triệu chứng của hội chứng PMDD (Premenstrual Dysphoric Disorder: rối loạn tâm lý tiền hành kinh) ở những phụ nữ lựa chọn sử dụng tránh thai đường uống.

Dược lực học

Tác dụng tránh thai của thuốc tránh thai kết hợp (COCs) được dựa trên sự tương tác của nhiều nhân tố, yếu tố được xem là quan trọng nhất là ức chế phóng noãn và thay đổi chất nhày cổ tử cung.

Sự tăng nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch khi sử dụng thuốc COCs được cho là liên quan đến thành phần estrogen. Vẫn còn tranh luận khoa học liên quan đến bất kỳ tác dụng nào lên nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch của thành phần progestin trong các COCs.

Bên cạnh tác dụng tránh thai, các COCs có một vài các đặc tính có lợi và bất lợi khác, có thể giúp trong việc chọn lựa biện pháp tránh thai, làm chu kỳ đều hơn, hành kinh ít đau hơn và với sự chảy máu kinh ít hơn có thể giúp giảm sự thiếu hụt sắt.

Drospirenone có các lợi ích cộng thêm bên cạnh tác dụng tránh thai. Drospirenone có hoạt tính kháng mineralocorticoid có thể ngăn chặn việc tăng cân và các triệu chứng khác do giữ nước. Nó chống lại sự giữ muối liên quan đến estrogen giúp thuốc có khả năng dung nạp tốt và có các tác dụng tích cực lên hội chứng tiền hành kinh (PMS). Yaz có khoảng nghỉ hormone được rút ngắn đã được nghiên cứu trên hội chứng PMDD. PMDD là một dạng nặng của PMS. Yaz cho thấy hiệu quả vượt trội trong việc giảm các triệu chứng của PMDD.

Sự kết hợp ethinylestradiol, drospirenone được chứng minh giúp tăng HDL.

Drospirenone có tác dụng kháng androgen tạo ra hiệu quả tích cực trên da và giảm tổn thương mụn trứng cá và sản sinh bã nhờn. Ngoài ra, drospirenone không chống lại sự tăng SHBG liên quan đến ethinylestradiol, điều này có ích cho việc kết hợp và bất hoạt các nội tiết tố androgen nội sinh.

Yaz được sử dụng như phác đồ điều trị mụn trên những phụ nữ bị mụn mức độ trung bình. Yaz có hiệu quả kháng mụn có ý nghĩa lâm sàng và thống kê trên tất cả các yếu tố trong tiêu chí chính về hiệu quả (tổn thương viêm, tổn thương không viêm, số lượng tổn thương chung, số lượng và tỉ lệ phụ nữ có mụn trứng cá “sạch” hoặc “gần sạch” trong đánh giá toàn cầu Investigatoris Stated Global Assessment (ISGA) và trong đa số các yếu tố của tiêu chí phụ về hiệu quả.

Drospirenone không có bất kỳ tác dụng của androgen, estrogen, glucocorticoid và kháng glucocorticoid. Điều này, kết hợp với các hoạt tính kháng mineralocorticoid và kháng androgen, giúp drospirenone có các thông số sinh hóa và dược lý gần giống với các progesteron tự nhiên. Ngoài ra, còn có các bằng chứng về việc giảm nguy cơ ung thư nội mạc tử cung và ung thư buồng trứng. Hơn nữa, các COCs liều cao hơn (0,05 mg ethinylestradiol) làm giảm tỉ lệ mắc u nang buồng trứng, viêm vùng chậu, bệnh vú lành tính và mang thai ngoài tử cung.

Dược động học

Hấp thu:

Drospirenone hấp thu gần như hoàn toàn và nhanh chóng qua đường uống. Nồng độ tối đa của thuốc trong huyết thanh là khoảng 35 ng/ml, đạt được sau khi uống từ 1 – 2 giờ. Sinh khả dụng khoảng từ 76% tới 85%. Thức ăn không ảnh hưởng tới sinh khả dụng của drospirenone.

Ethinylestradiol đường uống được hấp thu nhanh chóng và hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết thanh là khoảng 33 pg/ml đạt được trong vòng 1 – 2 giờ sau khi uống thuốc. Sinh khả dụng tuyệt đối là kết quả của sự liên hợp trước khi xâm nhập toàn thân và chuyển hóa lần đầu là khoảng 60%. Sử dụng đồng thời với thức ăn làm giảm sinh khả dụng của ethinylestradiol khoảng 25% trên các đối tượng nghiên cứu, trong khi không có thay đổi nào quan sát được trên những người khác.

Phân bố:

Drospirenone gắn kết với albumin huyết thanh và không liên kết với SHBG và CBF. Chỉ có từ 3 – 5% nồng độ thuốc toàn phần trong huyết thanh là tồn tại ở dạng steroid tự do. SHBG tăng do ethinylestradiol không ảnh hưởng đến các protein huyết thanh gắn kết vói drospirenone. Thể tích phân bố của drospirenone là 3,7 ± 1,2 L/kg.

Ethinylestradiol gắn kết cao nhưng không đặc hiệu với albumin huyết thanh (khoảng 98,5%) và làm tăng nồng độ SHBG trong huyết thanh. Thể tích phân bố được xác định là khoảng 5 L/kg.

Chuyển hóa:

Drospirenone được chuyển hóa rộng rãi sau khi uống. Các chất chuyển hóa chính trong huyết tương gồm dạng acid của drospirenone được tạo ra bằng cách mở vòng lacton và 4,5-dihydro-drospirenone-3sulfate, được hình thành qua quá trình giáng hóa và tiếp sau đó là sulfate hóa. Drospirenone cũng được chuyển hóa bởi quá trình oxi hóa xúc tác bởi CYP3A4.

Ethinylestradiol được chuyển hóa lần đầu qua gan và ruột một cách đáng kể. Ethinylestradiol và chất chuyển hóa bởi quá trình oxi hóa được liên hợp với glucuronides hoặc sulfate. Tốc độ thanh thải chuyển hóa vào khoảng 5 ml/phút/kg.

Thải trừ:

Tỷ lệ thanh thải chất chuyển hóa của drospirenone trong huyết thanh là 1,5 ± 0,2 ml/phút/kg. Drospirenone dạng chưa biến đổi được bài tiết chỉ ở dạng vết. Các chất chuyển hóa của drospirenone được bài tiết qua phân và nước tiểu với tỷ số bài tiết là khoảng 1,2 tới 1,4. T1/2 của chất chuyển hóa trong phân và nước tiểu là khoảng 40 giờ. Các mức drospirenone huyết thanh giảm trong 2 giai đoạn, với T1/2 lần lượt là 1,6 ± 0,7 giờ và 27 ± 7,5 giờ.

Ethinylestradiol dạng không thay đổi không được bài tiết, các chất chuyển hóa của ethinylestradiol được bài tiết trong nước tiểu và mật theo tỉ số 4:6. T1/2 của bài tiết chất chuyển hóa vào khoảng 1 ngày. Nồng độ ethinylestradiol huyết thanh giảm trong 2 pha, pha cuối được đặc trưng bởi T1/2 khoảng 24 giờ.

Mục nhập này đã được đăng trong Xe hay. Đánh dấu trang permalink.